Chúa nhật 2 Thường niên năm A

13 tháng 1, 2026

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Is 49,3.5-6

Đáp ca Tv 39,2 và 4ab.7-8a.8b-9.10 (Đ. x. c.8a và c.9a)

Bài đọc 2:1 Cr 1,1-3

Tin Mừng: Ga 1,29-34

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : Is 49,3.5-6

2. Đáp ca : Tv 39

3. Bài đọc 2 : 1 Cr 1,1-3

4. Bài Tin Mừng : Mt 1,29-34

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Dấu chỉ đến từ Thiên Chúa 
2.
Con đường của Con Chiên

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Is 49,3.5-6

Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

3 Đức Chúa đã phán cùng tôi :

“Hỡi Ít-ra-en, ngươi là tôi trung của Ta. Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang.”

5 Giờ đây Đức Chúa lại lên tiếng. Người là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ

để tôi trở thành người tôi trung, đem nhà Gia-cóp về cho Người

và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người. Thế nên tôi được Đức Chúa trân trọng,

và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi.

6 Người phán : “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta để tái lập các chi tộc Gia-cóp,

để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít.

Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân,

để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.” Đó là lời Chúa.

Đáp ca Tv 39,2 và 4ab.7-8a.8b-9.10 (Đ. x. c.8a và c.9a)

Đ. Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Ngài.

2 Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa,

Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu.

4ab Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới,

bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta. Đ.

7 Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con ;

lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi,

8a con liền thưa : “Này con xin đến !” Đ.

8b Trong sách có lời chép về con

9 rằng : Con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng,

lạy Thiên Chúa của con. Đ.

10 Đức công chính của Ngài,

con loan truyền giữa lòng đại hội ; lạy Chúa, Ngài từng biết :

con đâu có ngậm miệng làm thinh. Đ.

Bài đọc 2:1 Cr 1,1-3

Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su ban cho anh em ân sủng và bình an.

Khởi đầu thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

1 Tôi là Phao-lô, bởi ý Thiên Chúa được gọi làm Tông Đồ của Đức Ki-tô Giê-su, và ông Xốt-thê-nê là người anh em của chúng tôi, 2 kính gửi Hội Thánh của Thiên Chúa ở Cô-rin-tô, những người đã được hiến thánh trong Đức Ki-tô Giê-su, được kêu gọi làm dân thánh, cùng với tất cả những ai ở bất cứ nơi nào kêu cầu danh Chúa của chúng ta, Đức Giê-su Ki-tô, là Chúa của họ và của chúng ta. 3 Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su Ki-tô ban cho anh em ân sủng và bình an.

Đó là lời Chúa.

Tung hô Tin Mừng: Ga 1,14a.12a

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Ngôi Lời đã trở nên người phàm, và cư ngụ giữa chúng ta ; những ai đón nhận Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng: Ga 1,29-34

Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

29 Khi ấy, ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói : “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian.

30 Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng : Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.

31 Tôi đã không biết Người, nhưng tôi đến làm phép rửa trong nước để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en.” 32 Ông Gio-an còn làm chứng : “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. 33 Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi : ‘Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.’ 34 Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”

Đó là lời Chúa.


B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : Is 49,3.5-6

1. Trong lễ Chúa Giê-su chịu phép Rửa, chúng ta đã đọc bài ca đầu tiên trong “các bài ca của Người Tôi Tớ”. Tôi muốn đề cập đến bốn bài ca trong sách I-sai-a đệ nhị mà ta thường gọi là “các bài ca về Người Tôi Tớ” hay “Người Tôi Trung”, mỗi bài ca phác hoạ dung mạo “Người Tôi Tớ của Thiên Chúa”, nhưng nhấn mạnh đến những khía cạnh khác nhau.

Trong bài ca thứ nhất, chúng ta khám phá ra ba điểm quan trọng : Người Tôi Tớ được Thiên Chúa tuyển chọn để thực hiện một sứ mạng rõ ràng. Sứ mạng đó là làm sáng tỏ đức công chính của Đức Chúa và nâng đỡ tất cả những người bất hạnh. Cuối cùng, sứ mạng này liên quan đến toàn thể nhân loại, được diễn tả bằng một câu nói thật đẹp “các hải đảo xa xăm”. Đó là điều ta gọi là “tính cách phổ quát trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa”.

Bài ca đầu tiên đã không xác định ai là người Tôi Tớ của Thiên Chúa ; bài ca mô tả một nhân vật thật sự, hay chỉ là dung mạo lý tưởng của người Tôi Tớ thật sự của Thiên Chúa ? Bài ca thứ hai trong bài đọc 1 chúng ta vừa nghe sẽ giúp ta hiểu rõ hơn.

2. Tuy nhiên, trước khi trả lời câu hỏi nêu trên, chúng ta đừng quên rằng tất cả các bản văn Kinh Thánh trước tiên là một mặc khải về Thiên Chúa và về kế hoạch của Người ; điều đó thật rõ ràng ; vì những chữ cuối cùng của bài đọc 1 hôm nay nói lên điều đó : “Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.” Một lần nữa, Kinh Thánh cho chúng ta biết kế hoạch của Thiên Chúa là một kế hoạch cứu độ và liên quan đến toàn thể nhân loại, “đến tận cùng cõi đất”.

Ở đây sứ mạng của Người Tôi Tớ được diễn tả bằng một kiểu nói làm ta ngạc nhiên : “Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang”, câu nói ngắn gọn này đề cập đến một điều phi thường. Vinh quang của Thiên Chúa, chính là sự hiện diện rực rỡ của Người. “Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang” muốn nói rằng một cá nhân hay một dân tộc có thể trở nên người mang vinh quang của Thiên Chúa, có thể chiếu toả ánh sáng của Thiên Chúa.

3. Câu cuối cùng của bài đọc 1 hôm nay nói rất rõ điều đó : “Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.” Chúng ta nhớ lại các bản văn của sách I-sai-a được đọc trong lễ Hiển Linh. Bản văn hôm nay lấy lại chính chủ đề đó : Giê-ru-sa-lem là người mang ánh sáng của Thiên Chúa để hướng dẫn các quốc gia. Ở đây ngôn sứ I-sai-a sử dụng một kiểu nói tương tự : “Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi.” Tất cả mọi sức mạnh, tất cả mọi ánh sáng không phát xuất từ chúng ta, nhưng từ Thiên Chúa đang ngự trong chúng ta.

Một câu khác cũng gây ngạc nhiên trong bài đọc 1 hôm nay mà chúng ta đã nghe trong bài ca thứ nhất : “làm ánh sáng muôn dân”, trở thành khí cụ của Thiên Chúa để “đem ơn cứu độ của Thiên Chúa đến tận cùng cõi đất”, đó chính là ơn gọi của Đấng Mê-si-a, ở đây không đề cập đến một Đấng Mê-si-a – Vua, nhưng là một Đấng Mê-si-a – Tôi Tớ. Với bốn bài ca về “Người Tôi Tớ” trong sách I-sai-a, việc trông chờ Đấng Mê-si-a mang một diện mạo khác.

4. Còn một câu hỏi khó hiểu khác : Người Tôi Tớ nhiệm mầu này là một cá nhân hay một tập thể ? Trước hết, Người Tôi Tớ này được gọi là Ít-ra-en : “Hỡi Ít-ra-en, ngươi là tôi trung của Ta. Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang.” Vì thế, Người Tôi Trung là một tập thể, đó là dân Ít-ra-en được Chúa trao ban sứ mạng phục vụ thế giới. Kế hoạch của Thiên Chúa là phổ quát, nhưng để hoàn thành kế hoạch của Người, Thiên Chúa đã chọn một dân riêng, đó là dân Ít-ra-en : “Đức Chúa đã phán cùng tôi : ‘Hỡi Ít-ra-en, ngươi là tôi trung của Ta. Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang.’”

* Vậy khó khăn ở đâu ? Đọc những câu tiếp theo, chúng ta thấy : “Người là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, để tôi trở thành người tôi trung, đem nhà Gia-cóp về cho Người và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người.” Nếu Người Tôi Trung là Ít-ra-en, làm thế nào ta có thể nói Người sẽ quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người ? Cách chung người ta nghĩ rằng bản văn đề cập đến một nhóm nhỏ những người trung thành, số sót nhỏ bé, những người có lòng tin sắt son, không hề bị chao đảo trong lúc bị lưu đày hay bị bắt bớ. Chính với nhóm nhỏ này mà Thiên Chúa tin tưởng giao phó sứ mạng nâng đỡ anh em mình để quy tụ họ lại, và đưa họ trở về xứ sở, hoặc như ngôn sứ I-sai-a đã nói “đem nhà Gia-cóp về cho Người và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người”. Nhưng việc tái lập dân tộc này trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa là tiền đề cho việc cứu độ toàn thể nhân loại. “Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.”

* Chúa cũng nhờ chúng ta giới thiệu Thiên Chúa là Tình Yêu, là Cha giàu lòng thương xót cho những anh chị em chưa nhận biết Chúa, bằng chính đời sống bác ái yêu thương của tất cả chúng ta, những Ki-tô hữu của Chúa.

2. Đáp ca : Tv 39

Thánh vịnh 39 là một thánh vịnh cảm tạ Chúa và xin Người phù giúp ; phần trích đoạn hôm nay tóm tắt tuyệt vời khám phá của Kinh Thánh về hy tế : “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con.” Từ bình minh của nhân loại, Thiên Chúa đã “mở tai con người” để bắt đầu với con người một cuộc đối thoại tình yêu : Thánh vịnh 39 phản ánh việc thực tập lâu dài của dân Ít-ra-en để bước vào cuộc đối thoại này. Trong Giao ước Xi-nai, tế phẩm là các con vật tượng trưng cho ý muốn của dân tộc Ít-ra-en muốn thuộc về Thiên Chúa ; còn trong Tân Ước, dân mới hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, bởi vì cuộc đối thoại tình yêu đã được thực hiện, tế phẩm và lễ vật thuộc lãnh vực “thiêng liêng” như thánh Phao-lô sẽ nói : “Lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi, con liền thưa : ‘Này con xin đến.’” Lúc bấy giờ, bài ca mới vang lên từ tâm hồn của con người : “Đức công chính của Ngài, con loan truyền giữa lòng đại hội.”

3. Bài đọc 2 : 1 Cr 1,1-3

1. Thánh Phao-lô là một con người đầy nhiệt huyết, biết xả thân cho một lý tưởng mà không hề tính toán. Lý tưởng của ngài, căn bản là Đạo. Đối với ngài, Thiên Chúa là tất cả, và ngài thờ Thiên Chúa với lòng trung thành tuyệt đối. Chính vì thế mà lúc đầu, ngài bắt bớ các Ki-tô hữu vì cho họ là những kẻ lạc đạo, sau đó ngài lại rao giảng Đức Ki-tô, vì được mặc khải Người là Vị Cứu Tinh duy nhất. Lòng nhiệt thành vô điều kiện này biểu lộ qua một đời sống quên mình để phục vụ Đấng ngài yêu mến. Ngài không quản nhọc nhằn, đau khổ, thiếu thốn, hiểm nguy, miễn sao hoàn thành được nhiệm vụ. Không gì có thể tách ngài ra khỏi tình yêu Thiên Chúa và Đức Ki-tô. Nói đúng hơn, mọi gian khổ đều quý giá, vì làm cho ngài được thông phần cuộc Thương Khó và Thập Giá của Thầy mình, đặc biệt trong ba cuộc hành trình truyền giáo của ngài. Dù gặp biết bao thử thách gian truân, ngài đã thiết lập nhiều giáo đoàn mà Cô-rin-tô là một trong những giáo đoàn được ngài thành lập trong chuyến đi truyền giáo lần thứ hai. Thánh nhân đã ở lại giảng dạy tại đó hơn mười tám tháng, từ cuối năm 50 đến giữa năm 52. Theo cách hoạt động thông thường của ngài ở các trung tâm lớn, thánh Phao-lô muốn gieo hạt giống đức tin tại cửa khẩu sầm uất nổi danh này, mong hạt giống ấy sinh hoa kết trái trong cả xứ A-khai-a. Quả thật, ngài đã gầy dựng một cộng đoàn vững mạnh tại đó.

2. Nhưng thành phố lớn này là một trung tâm văn hoá Hy-lạp, là giao điểm của nhiều trào lưu tư tưởng và tôn giáo khác nhau, với một nhịp sống xô bồ ai cũng biết tiếng. Nơi đây còn có những vấn đề xã hội của một thành phố lớn : thiểu số dân cư là giàu, còn đa số thì nghèo, gồm những nô lệ, người cùng đinh bị khinh chê, người thấp cổ bé họng. Điều này ảnh hưởng đến tinh thần của giáo đoàn. Các tín hữu thật sốt sắng, nhưng lại bị nhịp sống vô đạo vô luân bên ngoài đe doạ. Đức tin Ki-tô giáo còn non trẻ tiếp xúc với một thành phố như thế quả là một sự kiện đặt ra nhiều vấn đề tế nhị cho người mới theo đạo.

Những lời đầu tiên của bài đọc 2 hôm nay cho ta thấy ngay toàn bộ các bức thư thánh nhân gửi cho các cộng đoàn tín hữu đầu tiên : Ngài được Thiên Chúa kêu gọi và viết cho những người được gọi : “Tôi là Phao-lô, bởi ý Thiên Chúa được gọi làm Tông Đồ của Đức Ki-tô Giê-su, được kêu gọi làm dân thánh.” Thánh Phao-lô là Tông Đồ của Đức Ki-tô Giê-su, không phải do ngài tự phong nhưng bởi ý của Thiên Chúa, và quyền hành của ngài phát xuất từ đó, và ngài ngỏ lời với Giáo Hội của Chúa tại Cô-rin-tô. Ðồng thời thánh Phao-lô cũng nhắc đến mối liên hệ của cộng đoàn Cô-rin-tô với các cộng đoàn Ki-tô hữu khác : “Kính gửi Hội Thánh của Thiên Chúa ở Cô-rin-tô, những người đã được hiến thánh trong Đức Ki-tô Giê-su, được kêu gọi làm dân thánh, cùng với tất cả những ai ở bất cứ nơi nào kêu cầu danh Chúa của chúng ta, Đức Giê-su Ki-tô, là Chúa của họ và của chúng ta.”

* Xin Chúa ban cho chúng ta ân sủng và bình an, vì không có ơn Chúa, chúng ta không thể làm gì thành công được. Và nếu không có bình an Chúa ban, thì chúng ta không thể nào tìm được sự thanh thản trong tâm hồn giữa muôn vàn sóng gió của cuộc đời.

4. Bài Tin Mừng : Mt 1,29-34

1. Câu chuyện hôm nay xảy ra sau khi Chúa Giê-su chịu phép Rửa tại sông Gio-đan bởi ông Gio-an : Chính vào lúc đó, ông Gio-an hiểu rằng người anh em bà con của mình chính là Đấng Mê-si-a. Bộ mặt của thế gian đã thay đổi, nhân loại bước vào giai đoạn thứ hai trong lịch sử của mình : có thời kỳ trước Đấng Mê-si-a (thời kỳ chờ đợi) và bây giờ Đấng Mê-si-a đang ở trước mặt ông, Người “đến” như các ngôn sứ đã tiên báo. Lúc bấy giờ mắt của thánh Gio-an Tẩy Giả mở ra. Toàn bộ đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe nói cho ta biết ông đã chiêm ngưỡng như thế nào, ta có thể nói là ông gần như có một thị kiến ; và mầu nhiệm Đức Ki-tô đã được mặc khải cho ông. Chúa Giê-su vừa là “Chiên Thiên Chúa”, “Con Người trên đó Thần Khí ngự trị”, “Con Thiên Chúa”, chính Người là “Đấng xoá tội trần gian”.

2. “Con Chiên” khiến chúng ta nghĩ đến “Con Chiên vượt qua”. Nghi thức lễ Vượt Qua hằng năm nhắc cho dân Ít-ra-en nhớ rằng Thiên Chúa đã giải thoát họ. Đêm dân Ít-ra-en được Chúa đưa ra khỏi Ai-cập, ông Mô-sê truyền cho dân cử hành nghi thức truyền thống, nhưng nhấn mạnh “từ nay về sau, hằng năm, nghi thức này nhắc anh em nhớ rằng Thiên Chúa đã đi qua giữa anh em để giải thoát anh em, Máu Chiên là dấu chỉ giải thoát anh em”. Thánh Gio-an Tẩy Giả áp dụng danh xưng này cho Chúa Giê-su : Người là “Chiên Vượt Qua”, Người chính là sự hiện diện của Thiên Chúa, sự vượt qua của Thiên Chúa đã giải thoát dân Người. Chính Đức Ki-tô đã giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tồi tệ nhất là tội lỗi. Người xoá bỏ tội lỗi của trần gian, Người hoà giải nhân loại với Thiên Chúa. Vì thế, Người chính là Đấng Mê-si-a muôn dân trông đợi.

Con Chiên cũng khiến chúng ta nghĩ đến Người Tôi Trung của Thiên Chúa mà sách I-sai-a đệ nhị đã nói (chương 53) : Người được so sánh với con chiên vô tội mang lấy tội lỗi của muôn người.

Cuối cùng, “Chiên Thiên Chúa” có nghĩa “Con Chiên được Thiên Chúa ban cho” khiến ta nhớ đến hy tế ông Áp-ra-ham dâng lên cho Chúa. Khi I-xa-ác, đứa con trai độc nhất của ông hỏi : “Nhưng con chiên để dâng của lễ toàn thiêu ở đâu, thưa cha ?” Ông Áp-ra-ham trả lời : “Con ơi, chính Đức Chúa sẽ ban cho.” Ở đây, thánh Gio-an Tẩy Giả cho ta thấy Con Chiên đích thực đã được Thiên Chúa chuẩn bị. Những của lễ đẫm máu đã bị huỷ bỏ như thánh vịnh 39 cho ta biết : “Lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi, con liền thưa : ‘Này con xin đến.’” Chính sự sẵn sàng, lòng tin tưởng của Người Con đã xoá bỏ tội lỗi trần gian : Chính sự sẵn sàng chứ không phải lễ vật đẫm máu mới có giá trị trước mặt Chúa.

3. Lời quả quyết thứ hai của thánh Gio-an Tẩy Giả về Chúa Giê-su là một lời chứng : “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người.” Và Chúa Giê-su chính là người đó. Đó cũng là một danh xưng thuộc về Đấng Mê-si-a, vì đặc điểm của Đấng Mê-si-a là lãnh nhận Thần Khí của Chúa để hoàn thành sứ mạng của mình.

Mê-si-a trong tiếng Híp-ri có nghĩa là “người được xức dầu”, như tân vương được xức dầu ngày đăng quang là dấu chỉ Thần Khí đồng hành với vị đó suốt hành trình sứ mạng của mình. Từ Đa-vít, người ta nói rằng Thần Khí Chúa đã đổ tràn xuống trên nhà vua vào lúc lên ngôi, và chỉ lúc đó mà thôi, vì sau đó các vua Ít-ra-en không hề theo sự hướng dẫn của Thần Khí trong việc cầm quyền trị nước. Nhưng Chúa Giê-su thì ngược lại, thánh Gio-an Tẩy Giả cho ta biết Thần Khí Chúa vẫn ở trong Người, nghĩa là tất cả mọi hoạt động của Người cũng là những hoạt động của Thần Khí.

Thần Khí ở đây là Thần Khí tình yêu. Nhân loại đang sống trong nghi ngờ và thù hận. Khi đến trần gian, Chúa Giê-su mở đầu một nhân loại mới. Từ vườn Ê-đen, Thiên Chúa đề nghị con người đối thoại với Người một cuộc đối thoại tình yêu, nhưng ông A-đam từ chối, nghi ngờ, phản kháng ; Chúa Giê-su thì trái lại, Người hướng về Chúa Cha trong một cuộc đối thoại tuyệt vời, không một phút nghi ngờ. Như thánh Gio-an tông đồ đã nói trong lời tựa của Tin Mừng thứ tư : “Người hướng về Thiên Chúa”. Người là lời đáp “Xin vâng” của nhân loại đối với Thiên Chúa. Vì thế, Chúa Giê-su chính là Đấng hoàn thành ý định (kế hoạch) của Thiên Chúa : Nơi Người, toàn thể nhân loại bước vào sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi.

Lời quả quyết thứ ba của thánh Gio-an Tẩy Giả về Chúa Giê-su : “Người là Con Thiên Chúa.” Vào thời của thánh Gio-an Tẩy Giả, kiểu nói này đồng nghĩa với Đấng Mê-si-a, nhưng chưa phải là một lời quả quyết thần học theo nghĩa chúng ta nói ngày nay là Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa theo nghĩa thánh Gio-an Tông Đồ nói trong lời tựa Tin Mừng thứ tư của ngài : “Người Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.” Đối với thánh Gio-an Tẩy Giả, đó là một cách khác để nói “Chúa Giê-su chính là Đấng Mê-si-a.” Ông nói rất long trọng : “Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”

Cuối cùng, thánh Gio-an Tẩy Giả quả quyết Chúa Giê-su xoá bỏ tội trần gian. Nếu tội lỗi của thế gian được xoá bỏ, nghĩa là con người đã bước vào thời đại Mê-si-a. Vào thời Gio-an Tẩy Giả, người ta biết rằng Đấng Mê-si-a sẽ thanh tẩy dân Người khỏi mọi tội lỗi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói ở chương 11 : “Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, vì sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập mặt đất này, cũng như nước lấp đầy lòng biển” (Is 11,9b). Thánh Gio-an Tẩy Giả ý thức mình là người tiền hô, rao giảng sự thống hối, chuẩn bị tâm hồn con người đón nhận kỷ nguyên mới. Chính thánh nhân đã nói : “Tôi đến làm phép rửa trong nước để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en.” Thánh Gio-an Tẩy Giả tự xoá mình đi, như ông Si-mê-ôn, khi Đức Mẹ và thánh Cả Giu-se dâng Chúa Giê-su vào Đền Thờ Giê-ru-sa-lem : “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi, vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân.” Thánh Gio-an Tẩy Giả cũng nói tương tự : “Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.” Thánh Gio-an Tẩy Giả đã chuẩn bị cho Đấng Mê-si-a ngự đến, và bây giờ ông nhường chỗ cho Người.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.

Tự vấn :

Chúng ta có đặt trọn niềm tin vào tình thương tha thứ của Chúa không ? Chúng ta có thường đến toà giải tội để xin Chúa ban ơn tha thứ và đổi mới không ?


C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Dấu chỉ đến từ Thiên Chúa 

(Mgr. L. Daloz, “Nous avons vu sa gloire”, Desclée de Brouwer).

Nơi ngọn nguồn của việc tỏ mình ra của Đức Giê-su, có chứng từ của Chúa Cha : “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.” Ta chỉ nhận biết Đức Giê-su sau lời mặc khải của Chúa Cha. Đức Giê-su thường nhắc lại : “Ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi” (6,45). Và chính Thánh Thần do Chúa Cha sai đến đã chỉ cho ông Gio-an Tẩy Giả biết Đức Giê-su. Nhờ ông, ta đi vào mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Ta chỉ nhận biết Đức Giê-su khi Thánh Thần Thiên Chúa đến mở mắt và chỉ cho ta thấy. Nếu không có Thánh Thần, không có lời chứng của các chứng nhân, ta sẽ không nhận biết Người. Người đâu phải là đối tượng của khoa học nhân văn mà ta có thể nhận dạng nhờ việc nghiên cứu và suy gẫm. Người là ngôi vị Con Thiên Chúa mà ta chỉ nhận biết được khi chính Thiên Chúa tỏ ra cho ta. Người là đối tượng của một chứng từ. Không ai có thể nhận biết Người nếu họ không có trái tim rộng mở đón nhận những dấu chỉ của Chúa Thánh Thần.

2. Con đường của Con Chiên

(H. Denis, “100 mots pour dire la foi”, Desclée de Brouwer).

Hằng bao lần ta đã chẳng đọc và nghe : Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian sao ? Thư thánh Phê-rô sử dụng một đề tài Kinh Thánh cổ xưa như chuyện phiêu lưu của ông Mô-sê bên Ai-cập. Tôi muốn cùng các bạn đi lại con đường của Con Chiên Thiên Chúa, Người đi từ sự báo oán giải thoát đến sự bất bạo động hoà bình.

Con đường ấy khởi đi từ một lịch sử đẫm máu. Dân Thiên Chúa được cứu khỏi Ai-cập nhờ máu Con Chiên. Con Chiên sẽ trở nên biểu tượng của công cuộc giải phóng Ít-ra-en. Vì, ta đừng quên điều này, cuộc gặp gỡ của ông Mô-sê ở bụi gai cháy đỏ không phải là một câu chuyện thần bí phóng đại hoặc truyện trẻ em ham thấy Chúa Mẹ hiện ra. Không, ông Mô-sê đã giết ngọt một tên Ai-cập đáng ngờ và Thiên Chúa của ông, dù chưa rõ tên Người, đã hứa nghe thấy dân Người đang bị nô lệ kêu xin. Như thế Con Chiên thuộc về phía cánh tay báo oán của Thiên Chúa, cùng với tất cả sức mạnh của Người.

Nhưng chẳng bao lâu, đặc biệt với các ngôn sứ (I-sai-a 53 và Giê-rê-mi-a 11…), Con Chiên này sẽ trở nên kiểu mẫu của những ai chết cho dân Người, như con cừu câm nín bị xén lông …

Thiên Chúa rời bỏ ngai Đấng Toàn Năng. Ta nói rằng Người đứng về phía Con Chiên chịu đau khổ. Như thể thời gian dần dần chín muồi để đón nhận một Đức Giê-su nào đó, được thánh Gio-an tuyên xưng là Đấng xoá tội trần gian, còn thư Phê-rô thì nhận là Con Chiên không khiếm khuyết, không tì vết, giải thoát ta khỏi một cuộc sống không mục đích như là chiên vất vưởng lầm lạc.

Nhưng sự đảo ngược hình ảnh chưa hoàn toàn. Cuộc giải phóng bằng việc báo oán của Thiên Chúa chưa chuyển hoá thành lễ dâng của một vật hy sinh tự nguyện và tự hạ. Thật vậy, Con Chiên phải mặc lấy những màu sắc và những hình thức của Sự Sống thật sự và của Vương Triều thiên quốc. Đó chính là Con Chiên của sách Khải huyền, hiện diện trong biết bao trang sách khi thời gian viên mãn.

Điều đó nhắc tôi nhớ tới một bức bích hoạ rất đẹp và rất cổ xưa ở vùng ngoại ô Lyon, trong đó ta thấy Đức Ki-tô vinh hiển dưới hình Con Chiên mặt người. Đó là cuộc khải hoàn của bình an, sức mạnh của sự bất bạo động của Thiên Chúa.

Vâng, chỉ Con Chiên mới có thể ban sự Bình An của lễ Phục Sinh, sự bình an được hứa ban cho thế giới đã được giải thoát. Xin ban bình an cho chúng con.


Suy Niệm Suy Tư Cầu Nguyện Lời Chúa Hằng Ngày Gương Chứng Nhân #Chúa nhật 2 Thường niên năm A #Lời Chúa Hằng Ngày #Man-na cho người lữ hành

Bài viết liên quan