Chúa nhật 2 Phục Sinh năm A - Man-na cho người lữ hành

7 tháng 4, 2026

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Cv 2,42-47

Đáp ca : Tv 117,2-4.13-15.22-24 (Đ. c.1)

Bài đọc 2 : 1 Pr 1,3-9

Tin Mừng : Ga 20,19-31

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Cv 2,42-47

Đáp ca : Tv 117

Bài đọc 2 : 1 Pr 1,3-9

Bài Tin Mừng : Ga 20,19-31

Đôi nét về Lòng Chúa Thương Xót trong Kinh Thánh

Một thoáng về phong trào “Lòng Chúa Thương Xót”

C. BÀI ĐỌC THÊM

Sai đi như Chúa Cha đã sai

Chiêm ngắm Đức Giê-su trong “tấm gương” đức tin của những kẻ đã thấy Người


A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Cv 2,42-47

Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung.

Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.

42 Thời bấy giờ, các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.

43 Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ.

44 Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. 45 Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu.

46 Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. 47 Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 117,2-4.13-15.22-24 (Đ. c.1)

Đ. Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Hoặc :

Đ. Ha-lê-lui-a.

2 Ít-ra-en hãy nói lên rằng :
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

3 Nhà A-ha-ron hãy nói lên rằng :

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

4 Ai kính sợ Chúa hãy nói lên rằng :

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Đ.

13 Chúng xô đẩy tôi, xô cho ngã,
nhưng Chúa đã phù trợ thân này.

14 Chúa là sức mạnh tôi,
là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi.

15 Kìa nghe tiếng reo mừng chiến thắng

trong doanh trại chính nhân : Đ.

22 Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ
lại trở nên đá tảng góc tường.

23 Đó chính là công trình của Chúa,

công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.

24 Đây là ngày Chúa đã làm ra,

nào ta hãy vui mừng hoan hỷ. Đ.

 

Bài đọc 2 : 1 Pr 1,3-9

Thiên Chúa cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phê-rô tông đồ.

3 Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta ! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại, 4 để được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai. Gia tài này dành ở trên trời cho anh em, 5 là những người, nhờ lòng tin, được Thiên Chúa quyền năng gìn giữ, hầu được hưởng ơn cứu độ Người đã dành sẵn, và sẽ bày tỏ ra trong thời sau hết.

6 Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. 7 Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, – vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giê-su Ki-tô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự. 8 Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, 9 bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng : x. Ga 20,29

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Này anh Tô-ma, vì đã thấy Thầy nên anh mới tin. Phúc thay những người không thấy mà tin.” Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng : Ga 20,19-31

Tám ngày sau, Đức Giê-su đến.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

19 Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em !” 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông : “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”

24 Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. 25 Các môn đệ khác nói với ông : “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” 26 Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em.” 27 Rồi Người bảo ông Tô-ma : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” 28 Ông Tô-ma thưa Người : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” 29 Đức Giê-su bảo : “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !”

30 Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. 31 Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người.

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Cv 2,42-47

1. Thánh Lu-ca vừa phác hoạ một hình ảnh tuyệt đẹp về cộng đoàn Ki-tô hữu đầu tiên : chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng, mọi người đều kính sợ Chúa, hợp nhất với nhau, bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Tuy nhiên thánh Lu-ca cũng đưa ra một số khó khăn cụ thể trong chính các cộng đoàn này, chẳng hạn các ông Kha-na-ni-a và Xa-phi-ra gian lận trong việc bán đất, nên bị Chúa phạt chết. Một sự việc khác còn trầm trọng hơn khi những người Ki-tô hữu gốc Do-thái và Ki-tô hữu gốc dân ngoại không thể sống chung vui vẻ với nhau.

Ta có thể tự hỏi thánh Lu-ca muốn gửi đến chúng ta sứ điệp nào khi kể lại cho chúng ta những hình ảnh quá đẹp, gần như phi thực tế này ? Chắc chắn thánh Lu-ca cho ta biết là thời đại Mê-si-a đã đến. Các Tông Đồ có thể sống chung với nhau như anh em một nhà, nhờ ơn Chúa Thánh Thần ; dấu ấn của Thánh Thần lan toả trên khắp thế giới nhờ Đấng Mê-si-a, thể hiện qua tình huynh đệ, bình an, công bằng, tiêu diệt sự dữ là những giá trị của Nước Thiên Chúa mà Đấng Mê-si-a thiết lập, mà các Ki-tô hữu đầu tiên nhiều lần làm gương mẫu cho chúng ta về điều đó !

Vì vậy đó là bằng chứng Chúa Giê-su chính là Đấng Mê-si-a được trông đợi, bằng chứng cho thấy chính Người đã tuôn đổ Thánh Thần xuống khắp thế gian. Nhờ đó chúng ta mới hiểu được câu : Mọi người đều kính sợ Chúa, nghĩa là mọi người đều thán phục những công việc Chúa làm. Thánh Lu-ca nói với chúng ta : Anh em hãy nhìn xem, những dấu chỉ của Nước Trời đang ở đó ; chính Thánh Thần cho phép chúng ta sống hài hoà trong gia đình, trong xứ đạo, trong các cộng đoàn khi chúng ta để cho Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn chúng ta trong ánh sáng Phục Sinh. Từ cuộc phục sinh của Đức Ki-tô, nhân loại mới đã xuất hiện, nhân loại lớn lên chầm chậm chung quanh và theo hình ảnh của Con Thiên Chúa. Thánh Phao-lô nói : “Anh em hãy nhìn xem, chúng ta là những kẻ phục sinh thật sự, nghĩa là chúng ta sống một đời sống mới thật sự, con người cũ đã chết rồi.”

2. Thánh Lu-ca, một người ngoại giáo trở lại đạo, rất ngạc nhiên vì sự lan toả không thể ngăn chặn của Tin Mừng : Hằng ngày Chúa cho gia nhập cộng đoàn những người được gọi để lãnh nhận ơn cứu độ : Chính nhờ đời sống gương mẫu của mình mà cộng đoàn làm chứng về Chúa Ki-tô Phục Sinh : một đời sống chia sẻ Lời Chúa và tham dự lễ bẻ bánh, cầu nguyện, chia sẻ của cải cho nhau, làm tất cả mọi việc đó trong vui vẻ ! Cách riêng, việc để mọi sự làm của chung, đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu, là một việc không thể thực hiện được trừ khi có Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn, Thánh Thần mà Chúa Giê-su đã ban cho các tín hữu. Chúa Giê-su đã nói : “Người ta nhận biết anh em là môn đệ Thầy khi anh em biết yêu thương nhau.” Chính điều đó chứng tỏ cho thế gian biết rằng Chúa Giê-su đang sống. Đời sống bác ái yêu thương giữa những người tin Chúa trong các cộng đoàn phải loại bỏ những cãi cọ, nói hành, nói xấu, bất khoan dung và những chia rẽ, sống ích kỷ, không chia sẻ với ai cả.

3. Trong bài đọc 1, thánh Lu-ca đưa ra một chương trình sống đạo dành cho người Ki-tô hữu chúng ta gồm bốn điểm : chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng.

Đối với chúng ta ngày hôm nay, tham dự lễ bẻ bánh là cử hành bí tích Thánh Thể, là tham dự thánh lễ, đặc biệt thánh lễ Chúa nhật là quan trọng nhất và hết sức cần thiết cho đời sống đức tin của tất cả chúng ta, vì khi tham dự thánh lễ, chúng ta kín múc sức mạnh từ bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể để sống đức tin, để làm chứng cho Thiên Chúa là Tình Yêu, là Cha giàu lòng thương xót giữa biết bao người chưa nhận biết Chúa.

Hãy tham dự thánh lễ sốt sắng, tích cực, linh động và hiệu quả.

 

Đáp ca : Tv 117

Trong Mùa Phục Sinh, Phụng vụ thường mời ta nghe lại thánh vịnh 117 này, tuy những câu trích dẫn mỗi lần có khác nhau. May mắn là Chúa nhật hôm nay hai câu đầu và câu cuối của thánh vịnh hoàn toàn giống nhau : “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” Đó là toàn thể nội dung của thánh vịnh này. Đối với một người Do-thái, hai câu trên là quá đủ ! Vì nói lên kinh nghiệm của Ít-ra-en, sự khám phá họ có được, nhờ sự mặc khải của chính Thiên Chúa về mầu nhiệm của Người : một Thiên Chúa tình yêu, một Thiên Chúa trung tín. Khi suy niệm thánh vịnh hôm nay, chúng ta lại thấy câu : “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.” Chính Đức Giê-su đã nói câu này ít lâu trước cuộc Thương Khó của Người trong cuộc tranh luận với các thượng tế và kỳ lão, và nhân dịp này Đức Giê-su đã kể “dụ ngôn” những tá điền sát nhân. Thật ra phải gọi là ngụ ngôn, vì tất cả các chi tiết đều mang ý nghĩa riêng : gia chủ là Thiên Chúa ; vườn nho là Ít-ra-en, được Thiên Chúa chọn làm dân riêng ; Chúa đã thiết lập Giao ước Xi-nai với thể chế Mô-sê để bảo vệ và hướng dẫn dân Ít-ra-en, ví như giậu bồn đạp nho, vọng gác trong vườn ; tá điền sát nhân là những người Do-thái thất tín, nhất là những nhà lãnh đạo dân Ít-ra-en đã đưa dân vào con đường bội nghĩa ; các đầy tớ của gia chủ là các vị ngôn sứ, qua các thời đã bị đối xử tàn tệ. Người con của gia chủ chính là Chúa Giê-su, bị đóng đinh trên thập giá bên ngoài Giê-ru-sa-lem. Người Do-thái tưởng giết Đức Giê-su để nắm trọn vận mệnh dân tộc. Nhưng họ sẽ bị truất quyền và bị trừng phạt. Chúa ám chỉ sự tàn phá Giê-ru-sa-lem sau này. Còn Nước Thiên Chúa sẽ được ban cho một dân khác biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi. Dân mới này là Hội Thánh quy tụ lại từ mọi dân thiên hạ. “Đức Giê-su hỏi họ : ‘Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia ?’ Họ đáp : ‘Ác giả thì ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa họ nộp hoa lợi cho ông.’ Đức Giê-su bảo họ : ‘Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. Các ông chưa bao giờ đọc câu này sao ?’”

 

Bài đọc 2 : 1 Pr 1,3-9

1. Bài đọc 2 chúng ta vừa nghe gồm ba đoạn :

1.1. Đoạn thứ nhất gồm các câu 3, 4, 5 : “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Ki-tô, Chúa chúng ta ! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại.”

1.2. Đoạn thứ hai gồm các câu 6 và 7 : “Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách.”

1.3. Đoạn thứ ba gồm các câu 8 và 9 : “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin.” Chúng ta ghi nhận từ “tin” hiện diện trong cả ba đoạn ; điều đó không có gì lạ nếu chúng ta tham dự nghi thức Thánh Tẩy ; và đó cũng là niềm vui tuyệt vời. Thánh Phê-rô nói là “niềm vui khôn tả” mặc dầu đang sống giữa trăm chiều thử thách, thánh nhân muốn đề cập đến những cộng đoàn Ki-tô hữu đang sống trong một thế giới thù địch, đây là trường hợp các độc giả của thư Phê-rô.

* Chúng ta cùng lần lượt suy niệm từng đoạn một :

“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.” Kiểu nói của Do-thái giáo, công thức của Ki-tô giáo ; bắt đầu bằng một lời long trọng chúc tụng Thiên Chúa, là lời cầu nguyện kiểu mẫu của Do-thái giáo ; và đây là lời cầu của một người thường hát các thánh vịnh : Nhưng nội dung là Ki-tô giáo : trong các thánh vịnh, Thiên Chúa được ca tụng như là Thiên Chúa của các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác, Gia-cóp ... Từ nay về sau Mặc Khải đã vượt qua một bước quyết định : bây giờ Thiên Chúa được biết là Cha của Đức Giê-su Ki-tô và chính nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà kế hoạch cứu độ nhân loại của Thiên Chúa được hoàn tất.

“Thiên Chúa đã cho chúng ta được tái sinh nhờ sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô” : như chính Đức Giê-su đã nói trong cuộc đối thoại với ông Ni-cô-đê-mô, thánh Phê-rô nói về phép rửa như một sự tái sinh, và sự tái sinh này bắt nguồn từ sự phục sinh của Chúa Ki-tô : hiện nay, sau hơn hai ngàn năm Ki-tô giáo, chúng ta đã rất quen với kiểu nói : “Đức Giê-su Ki-tô đã phục sinh” mà không hề có chút băn khoăn nào ; nhưng các Ki-tô hữu đầu tiên thì khác, họ sống như một cuộc cách mạng thật sự ; từ nay về sau, đối với họ, diện mạo thế giới này đã thay đổi.

Chúng ta cũng gặp lại ở đây một chủ đề rất quen thuộc của thánh Phao-lô : sự căng thẳng giữa hiện tại và tương lai : tất cả đã hoàn tất nơi Đức Ki-tô Phục Sinh, do đó ngài nói về quá khứ : “Thiên Chúa đã cho chúng ta được tái sinh” nhưng chúng ta còn phải tiến bước đến tương lai, hướng đến “ơn cứu độ” Chúa đã dành sẵn cho chúng ta, và sẽ tỏ hiện ra trong ngày sau hết như thánh Phê-rô quả quyết. Ta có thể diễn đạt từ “cứu độ” bằng một từ khác là “sự sống” hoặc “giải thoát”, giải thoát ta khỏi mọi sự huỷ diệt, ô uế và lão hoá. Ơn cứu độ, sự giải thoát đã được hoàn thành nơi Đức Giê-su Ki-tô, nhưng toàn thể nhân loại hiện nay chưa đạt được mà phải trong tương lai.

Vì ơn cứu độ đã được hoàn tất nhờ Đức Giê-su Ki-tô, do đó ngay từ bây giờ chúng ta vui mừng hân hoan như thánh Phê-rô nói : những ngày chúng ta gặp ưu phiền có thể là những ngày chúng ta không còn quan tâm đến Tin Mừng Phục Sinh trọng đại : đó là Tin Mừng yêu thương và sự sống còn mạnh hơn hận thù và cái chết. Thật ra, trong vài tình huống, niềm xác tín này có thể bị dao động và lúc đó đức tin của chúng ta bị khủng hoảng !

Đoạn thứ hai nói rõ điều đó : “Anh em còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách” như thánh Phê-rô nói. Phần tiếp theo của bức thư cho ta thoáng thấy những khó khăn mà các Ki-tô hữu gặp phải, có lẽ là sự thù nghịch mà các Ki-tô hữu trẻ gặp vì bị xem là những kẻ sống bên lề trong thế giới dân ngoại.

Đoạn thứ hai lấy lại chủ đề đức tin trong thời gian chờ đợi. Chính thánh Phê-rô được Chúa ban ơn đức tin nhờ sống kề cận lâu dài bên Người, nhưng thánh nhân ngỏ lời với các Ki-tô hữu đã không biết Chúa Giê-su và ngài kể cho họ biết mối phúc Chúa Giê-su đã hứa cho ông Tô-ma : “Phúc cho ai không thấy mà tin” và khuyến khích họ : “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang.” Thánh Phê-rô biết mình nói về vấn đề gì, bởi vì chính ông đã được đặc ân tham dự vào cuộc Hiển Dung của Chúa Giê-su, và trên gương mặt của các Ki-tô hữu, ông tìm lại được ánh sáng rực rỡ của Chúa Giê-su.

 

Bài Tin Mừng : Ga 20,19-31

1. “Sau cái chết của Đức Giê-su, vào chiều ngày thứ nhất trong tuần”, nghĩa là ngày Chúa nhật. Chúng ta cần nhớ rằng, khi thánh Gio-an tông đồ viết Tin Mừng thứ tư, Tin Mừng theo thánh Gio-an, thì các biến cố đã xảy ra gần năm mươi năm rồi. Năm mươi năm các Ki-tô hữu tập họp vào mỗi Chúa nhật để mừng Đức Giê-su Phục Sinh.

Đối với người Do-thái, từ nhiều thế kỷ rồi, Chúa nhật là ngày đầu tiên của tuần lễ, một ngày làm việc bình thường như các ngày khác. Chính ngày thứ bảy, ngày sa-bát mới là ngày lễ, ngày nghỉ ngơi, ngày tập họp để cầu nguyện. Vào hôm sau của ngày Sa-bát mà Đức Giê-su phục sinh, và nhiều lần sau đó, Người hiện ra với các Tông Đồ, lần nào cũng vào ngày thứ nhất trong tuần, do đó đối với người Ki-tô hữu, ngày đó có một ý nghĩa đặc biệt, “ngày đầu tiên của thời đại mới” : như tuần lễ có bảy ngày của người Do-thái nhắc lại bảy ngày của công trình sáng tạo của Thiên Chúa, tuần lễ mới này được khai mạc bởi sự phục sinh của Đức Ki-tô được các Ki-tô hữu hiểu như là khởi đầu của cuộc tạo dựng mới.

2. “Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái, Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông.” Thánh Gio-an nhấn mạnh đến sự trái ngược nhau : các môn đệ đóng kín cửa vì sợ người Do-thái. Ta có thể hiểu và thông cảm với các môn đệ vì nếu người Do-thái đã giết Thầy của các ông, thì họ cũng có thể giết cả các ông nữa. Điều đó càng làm rõ nét hơn sự tự do của Đức Ki-tô ! Cửa đóng kín chăng ? Không có vấn đề gì đối với Người cả.

Và lời đầu tiên Người nói với các môn đệ là “Bình an cho anh em.” Đó là một lời chào nơi cửa miệng của người Do-thái mỗi khi gặp nhau, nhưng dù vậy, ta cảm thấy lời Đức Giê-su chào các môn đệ xem ra có vẻ lạ lùng sau bao nhiêu biến cố mà các ông vừa trải qua ! Sự sợ hãi, sự lo âu trước khi Đức Giê-su bị bắt, cuộc Thương Khó thật là kinh khủng và cái chết đau đớn của Người trên thập giá, đêm thứ Năm Tuần Thánh, ngày thứ Sáu tang tóc, và sự im lặng của ngày thứ Bảy, rồi Đức Giê-su được an táng trong huyệt đá mới ... nhưng bây giờ Người đang sống và để chứng minh cho việc đó, “Người cho các ông xem tay và cạnh sườn, và các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa”. Điều không thể xảy ra đã xảy ra, và ngay lúc đó, ông Gio-an kể tiếp : “Một lần nữa, Đức Giê-su nói với các môn đệ : ‘Bình an cho anh em.’”

3. “Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : ‘Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.’” Ta ngỡ ngàng về mối liên hệ giữa ơn Thánh Thần và sứ vụ hoà giải : Trong Kinh Thánh, Thánh Thần luôn được ban để thực hiện một sứ vụ, và không có một sứ vụ nào quan trọng hơn sứ vụ hoà giải con người với Thiên Chúa.

Đó là một lệnh truyền của Chúa Giê-su : “Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” Anh em hãy đi loan báo rằng tội lỗi đã được tha. Anh em hãy trở nên những sứ giả của hoà giải, phổ quát. Nếu anh em không đi thì Tin Mừng về sự hoà giải sẽ không được công bố. Chúa Cha cần anh em cho công việc đó. “Như Chúa Cha đã sai Thầy”, ở đây ta thấy Đức Giê-su tóm tắt tất cả sứ vụ của Người là nói cho mọi người biết Thiên Chúa là Tình Yêu và tha thứ, thì Người cũng sai tất cả các môn đệ đi khắp thế gian và rao giảng, công bố như vậy. Tội lỗi duy nhất, là nguồn gốc của mọi bất hạnh, là không tin vào tình yêu của Thiên Chúa. Phần anh em, Thầy sai anh em đi nói cho mọi người biết về tình yêu của Thiên Chúa.

 

Đôi nét về Lòng Chúa Thương Xót trong Kinh Thánh

Lòng thương xót là sự đau lòng, xót xa trước nỗi bất hạnh của người khác, thường được thể hiện bằng hành động cụ thể, như việc giúp đỡ hay an ủi.

* Trong Cựu Ước, dân Ít-ra-en cảm nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa, vì Người luôn chung thuỷ, thương yêu, tha thứ sau mỗi lần họ phạm tội và từ bỏ Người (Is 54,8-10).

* Trong Tân Ước, Chúa Giê-su là hiện thân của Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Người giảng dạy về một Thiên Chúa là Cha yêu thương và tha thứ (x. Lc 15,11-32) ; Người đã biểu lộ lòng thương xót đối với người nghèo, người tội lỗi (x. Mc 10,47-48) và kêu gọi mọi người có lòng thương xót với nhau (x. Mt 5,7). Lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn nơi cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô để cứu độ nhân loại, làm cho con người trở thành nghĩa tử của Thiên Chúa.

* Hội Thánh có nhiệm vụ tuyên xưng và giáo huấn các Ki-tô hữu về lòng thương xót của Thiên Chúa qua việc công bố Lời Chúa, qua bí tích Thánh Thể và Hoà Giải.

* Sứ mạng của người Ki-tô hữu là làm chứng cho lòng thương xót của Thiên Chúa qua việc :

- Cầu nguyện để ý thức rằng con người được cứu rỗi là do lòng thương xót của Thiên Chúa.

- Sẵn sàng làm mọi việc tốt cho tha nhân.

- Góp phần xây dựng một xã hội thấm đẫm tình bác ái yêu thương.


Một thoáng về phong trào “Lòng Chúa Thương Xót”

Đức Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II là vị giáo hoàng của lòng Chúa thương xót, vì nhờ ngài mà phong trào Lòng Chúa Thương Xót mới được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới, và sứ điệp mà Chúa Giê-su trao cho thánh nữ Faustina mới được nhiều người biết đến. Điều quan trọng là khi cầu xin Chúa thương xót chúng ta, thì chúng ta cũng phải thực thi lòng thương xót với tha nhân đang sống chung quanh mình.

Hãy tín thác vào lòng thương xót của Chúa để giữa mọi thăng trầm, buồn vui của cuộc sống thường ngày, chúng ta có thể vượt thắng được mọi thử thách gian truân ...

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su là Cha giàu lòng thương xót, xin cho tất cả chúng con cũng luôn thể hiện lòng thương xót đối với tha nhân.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có thương xót và giúp đỡ những anh chị em đói rách, bần cùng không ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

Sai đi như Chúa Cha đã sai

(J. Potin, “Jésus, l’histoire vraie”).

Phòng đóng kín, Đức Giê-su đột ngột hiện ra giữa các môn đệ, ba lời vắn vỏi : bình an, Thánh Thần, tha tội.

Ở đây, các môn đệ sợ người Do-thái chứ không sợ ma. Trái lại, họ tràn đầy niềm vui. Sao họ có thể dè dặt về căn tính của Đấng hiện ra, vì Người đã cho họ xem tay và cạnh sườn Người ? Đức tin vào sự Phục Sinh phát sinh từ khám phá này, cũng với sự bình an và niềm vui được gặp lại Người, hai món quà của thời đại Mê-si-a mà Người đã hứa cho họ. Theo thánh Gio-an và thánh Lu-ca, sự hiện diện của Người không có mục đích đưa họ trở lại quá khứ nhung nhớ. Đức Giê-su “sai” họ như Cha Người đã sai Người. Họ trở nên “tông đồ” của Người. Để tấn phong, Người thổi hơi, nghĩa là ban Thánh Thần của Người cho họ theo hai nghĩa của từ ngữ bằng tiếng Do-thái và Hy-lạp. Theo thánh Gio-an, thổi hơi liên hệ đến việc ban phát hào phóng Thánh Thần mà thánh Lu-ca đặt vào thời điểm năm mươi ngày sau, trong lễ Hiện Xuống. Ân ban Thánh Thần cho phép họ tha thứ tội lỗi mà theo thánh Gio-an, chủ yếu là tội từ chối tin Đức Giê-su là Con Chúa Cha. Ai tuyên xưng Người sẽ được tha tội, vượt qua cái chết đến sự sống. Sứ mạng của các Tông Đồ là loan báo tha tội này nhân danh Đức Giê-su.

 

Chiêm ngắm Đức Giê-su trong “tấm gương” đức tin của những kẻ đã thấy Người

(Mgr. L. Daloz, “Nous avons vu sa gloire”).

Đức Giê-su tuyên bố từ nay sẽ là chế độ đức tin. Người đã tỏ mình ra trong vinh quang phục sinh cho các Tông Đồ và các môn đệ. Họ sẽ là những chứng nhân ưu tuyển đã thấy trước điều mai sau sẽ tỏ ra cho mọi người : khi chúng ta thấy Người diện đối diện, ta sẽ nhận ra Đấng đã cho ta xỏ ngón tay vào vết thương trên bàn tay và ở cạnh sườn Người. Trong khi chờ đợi ngày mặc khải chung cuộc, ta tìm thấy sự bảo đảm và niềm vui của đức tin trong chứng từ của các môn đệ đầu tiên. Phúc cho những ai không thấy mà tin. Ta tin khi chiêm ngắm Đức Giê-su trong tấm gương đức tin của những chứng nhân đã thấy Chúa, cho dù đối với ta sự Phục Sinh vẫn là một điều khó hiểu. Nếu ta tiếp nhận phép lạ phục sinh trong sự vững vàng tăm tối của đức tin, một ngày kia Đấng Phục Sinh sẽ tỏ mình cho ta, và ta sẽ phải kêu lên như ông Tô-ma : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !”

Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày Gương Chứng Nhân Suy Tư Cầu Nguyện #Chúa nhật 2 Phục sinh năm A #Man-na cho người lữ hành

Bài viết liên quan