Chúa nhật 5 Thường niên năm A - Man-na cho người lữ hành

3 tháng 2, 2026

A.PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Is 58,7-10

Đáp ca Tv 111,4-5.6-8a.9 (Đ. c.4a)

Bài đọc 2:     1 Cr 2,1-5

Tin Mừng   Mt 5,13-16

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1: Is 58,7-10

2. Đáp ca:  Tv 111

3. Bài đọc 2 : 1 Cr 2,1-5

4. Bài Tin Mừng : Mt 5,13-16

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Muối và ánh sáng

2. “Thấm nhập vào nơi thâm sâu của thế giới bằng sức mạnh linh hoạt của muối về sự chiếu toả của ánh sáng”

3. “Xin hãy trao ban chính bạn làm muối ướp đời tôi”

A.PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Is 58,7-10

Ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

7 Đây là lời Đức Chúa phán :
“Ngươi hãy chia cơm cho người đói,
rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ ;
thấy ai mình trần thì cho áo che thân,
không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục ?
8 Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương ngươi sẽ mau lành.
Đức công chính ngươi sẽ mở đường phía trước, vinh quang Đức Chúa bao bọc phía sau ngươi.
9 Bấy giờ, ngươi kêu lên, Đức Chúa sẽ nhậm lời, ngươi cầu cứu, Người liền đáp lại : ‘Có Ta đây !’
Nếu ngươi loại khỏi nơi ngươi ở
gông cùm, cử chỉ đe doạ và lời nói hại người,
10 nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói, làm thoả lòng người bị hạ nhục,
thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu toả trong bóng tối,
và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ.” Đó là lời Chúa.


Đáp ca Tv 111,4-5.6-8a.9 (Đ. c.4a)

Đ. Giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng chiếu rọi kẻ ngay lành.

4 Giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng chiếu rọi kẻ ngay lành :
đó là người từ bi nhân hậu và công chính.
5 Phúc thay người biết cảm thương và cho vay mượn,
biết theo lẽ phải mà thu xếp công việc mình. Đ.

6 Họ sẽ không bao giờ lay chuyển,
thiên hạ muôn đời còn tưởng nhớ chính nhân.
7 Họ không lo phải nghe tin dữ, hằng an tâm và tin cậy Chúa,
8a luôn vững lòng không sợ hãi chi. Đ.

9 Kẻ túng nghèo, họ rộng tay làm phúc,
đức công chính của họ tồn tại muôn đời,
uy thế họ vươn cao rực rỡ. Đ.


Bài đọc 2:     1 Cr 2,1-5

Tôi đã loan báo cho anh em mầu nhiệm Đức Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

1 Thưa anh em, khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa. 2 Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá. 3 Vì thế, khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy. 4 Tôi nói, tôi giảng, mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa. 5 Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa.

Đó là lời Chúa.


Tung hô Tin Mừng Ga 8,12

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.” Ha-lê-lui-a.


Tin Mừng   Mt 5,13-16

Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

13 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.

14 “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. 15 Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. 16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”

Đó là lời Chúa.


B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1: Is 58,7-10

Thoạt nghe ta thấy bài đọc 1 hôm nay là một bài học về luân lý, nhưng thật ra hoàn toàn không phải như vậy, vì bản văn đề cập đến một vấn đề hoàn toàn khác. Chúng ta đang ở vào cuối thế kỷ VI trước Công nguyên ; cuộc hồi hương trở về quê cha đất tổ của dân Ít-ra-en từ chốn lưu đày Ba-by-lon đã hoàn tất, nhưng những hậu quả tai hại của cuộc lưu đày này thật là kinh khủng ...

Đời sống tôn giáo được tái khởi động tại Giê-ru-sa-lem và người ta cố gắng làm đẹp lòng Thiên Chúa. Nhưng ngôn sứ I-sai-a được Chúa giao trách nhiệm đưa ra một sứ điệp khá tế nhị : Anh em làm vui lòng Thiên Chúa là việc tốt, nhưng không phải là những việc làm theo suy nghĩ của anh em. Ngôn sứ I-sai-a đưa ra những lời khiển trách nặng nề, vì có một số người quan niệm việc giữ đạo là một cách làm cho Thiên Chúa mắc nợ họ và phải đáp lại bằng những phúc lành, theo ý họ : “Chúng tôi ăn chay, sao Ngài không thấy ? Chúng tôi hãm mình, sao Ngài chẳng hay ? Này, ngày ăn chay, các ngươi vẫn lo kiếm lợi, vẫn áp bức mọi kẻ làm công cho mình. Này, các ngươi ăn chay để mà đôi co cãi vã, để nắm tay đánh đấm thật bạo tàn ... Cách ăn chay mà Ta ưa thích là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục(Is 58,3-4a.6-7).

Đây là một trong những bản văn nổi bật nhất của Cựu Ước. Điều đáng tiếc là chúng ta ít khi đọc bản văn này, vì làm đảo lộn ý nghĩ của chúng ta về Thiên Chúa và về tôn giáo. Tuy nhiên, ở đây chúng ta có được câu trả lời cho một trong những câu hỏi lớn nhất của chúng ta : “Thiên Chúa muốn gì ở chúng ta ?” Từ nhiều thế kỷ qua, trong dân Ít-ra-en, không phải là sau cuộc lưu đày ở Ba-by-lon trở về, mà từ ông Áp-ra-ham, nghĩa là vào khoảng gần 1800 năm trước Công nguyên, người ta đã tìm cách làm đẹp lòng Chúa. Người ta thử đủ mọi cách : trước hết là sát tế con người, nhưng Thiên Chúa không chấp nhận việc này. Lúc bấy giờ người ta tiếp tục dâng của lễ nhưng chỉ là súc vật ; và rồi như trong tất cả các tôn giáo, người ta tin rằng ăn chay, dâng của lễ, cầu nguyện là những việc đẹp lòng Thiên Chúa. Trải qua dòng thời gian, các ngôn sứ kêu gọi dân chúng đừng chỉ thoả mãn với việc phụng tự, nhưng điều đặc biệt quan trọng là phải sống Giao ước mỗi ngày. Đây là ý nghĩa của bài đọc 1 chúng ta vừa nghe. Ngôn sứ I-sai-a mời gọi chúng ta biết chia sẻ với những người chung quanh, nhất là những người nghèo khổ bất hạnh : cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc. Tóm lại là ta phải luôn mở rộng con tim, mở rộng đôi bàn tay để sẵn sàng giúp đỡ những ai đang thật sự gặp hoạn nạn mà chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống thường ngày. Ta suy niệm ba điểm :

1. Thứ nhất, những cử chỉ giải thoát, những cử chỉ chia sẻ mà ngôn sứ I-sai-a khuyên chúng ta làm, chỉ là việc bắt chước chính những việc làm của Thiên Chúa. Dân Ít-ra-en đã có nhiều kinh nghiệm về hành động giải thoát của Thiên Chúa và lòng trắc ẩn của Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, và điều Thiên Chúa đòi hỏi nơi chúng ta là làm giống như Người đã làm : tận tình giúp đỡ những ai đang đói rách bần cùng, vì con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa.

2. Thứ hai, do đó chúng ta không ngạc nhiên khi ngôn sứ I-sai-a hứa : “Nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói, làm thoả lòng người bị hạ nhục, thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu toả trong bóng tối, và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ.” Chắc chắn là nói về chính ánh sáng của Thiên Chúa, hay nói cách khác, ngôn sứ I-sai-a quả quyết : khi ta cho đi là ta phản ánh sự hiện diện của Thiên Chúa. Một lần nữa, ta có thể lặp lại câu nói nổi tiếng của truyền thống Ki-tô giáo : “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời”, đặc biệt là lời của Chúa Giê-su trong sách Công vụ Tông Đồ : “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).

3. Thứ ba : Tất cả mọi việc làm công bằng, chia sẻ đều là một bước tiến đến Nước Thiên Chúa, bởi vì Nước Trời mà Cựu Ước chờ đợi là nơi mà đức công bằng và tình yêu thương luôn hiện hữu. Bài Tin Mừng của Chúa nhật tuần trước về “tám mối phúc thật” nhắc chúng ta nhớ rằng Nước Trời được hình thành từ ngày này sang ngày khác bởi những người sống hiền lành, trong sạch, xây dựng hoà bình, đói khát sự công chính và hay thương xót.

2. Đáp ca:  Tv 111

Thánh vịnh 111 cho ta thấy người công chính thật hạnh phúc biết bao. Chúng ta cùng suy niệm trích đoạn của thánh vịnh chúng ta vừa nghe. Theo thói quen trong các Chúa nhật của mùa Thường Niên, những câu trích của thánh vịnh 111 hôm nay là tiếng dội lại ý nghĩa của bài đọc 1 chúng ta vừa nghe. Ai quan tâm đến đức công bằng và được Thiên Chúa hứa ban cho ánh sáng, thì đến lượt mình, cũng phải trở nên ánh sáng soi đường cho người muốn sống ngay thẳng : “Giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng chiếu rọi kẻ ngay lành, đó là người từ bi, nhân hậu và công chính. Phúc thay người biết cảm thương và cho vay mượn, biết theo lẽ phải mà thu xếp công việc mình.”

Một người như thế được danh thơm tiếng tốt, nhất là lòng quảng đại của đương sự phản ánh lòng tin tưởng của người này đối với Thiên Chúa : “Họ sẽ không bao giờ lay chuyển, thiên hạ muôn đời còn tưởng nhớ chính nhân. Họ không lo phải nghe tin dữ, hằng an tâm và tin cậy Chúa, luôn vững lòng không sợ hãi chi.” Lòng tin tưởng này làm cho người công chính trở nên kiểu mẫu cho việc chia sẻ cho những người nghèo khổ : “Kẻ túng nghèo, họ rộng tay làm phúc, đức công chính của họ tồn tại muôn đời, uy thế họ vươn cao rực rỡ.”

3. Bài đọc 2 : 1 Cr 2,1-5

1. Như thường lệ, thánh Phao-lô đưa ra những điểm tương phản. Điểm tương phản đầu tiên là mầu nhiệm của Thiên Chúa hoàn toàn khác với sự khôn ngoan của loài người ; điểm tương phản thứ hai là lời rao giảng của thánh Phao-lô loan báo mầu nhiệm hoàn toàn khác với lời nói hùng biện của loài người. Ta cùng suy niệm về hai điểm tương phản này : Mầu nhiệm của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của loài người ; lời rao giảng của thánh Phao-lô và sự hùng biện của loài người.

Trước hết là sự tương phản giữa mầu nhiệm của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của loài người. Thánh Phao-lô nói rằng ngài đến để “loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa”. Ta phải hiểu rằng qua đó “ý định nhân hậu” của Thiên Chúa mà thư Ê-phê-xô triển khai sau này : ý định nhân hậu của Thiên Chúa là giúp nhân loại hiệp thông tình yêu trọn vẹn xung quanh Đức Giê-su Ki-tô. Vì vậy, ý định nhân hậu của Thiên Chúa dựa trên những giá trị của tình yêu, sự phục vụ lẫn nhau, ân sủng tha thứ, và ai cũng đều thấy rõ là Đức Giê-su đã thực hiện suốt cuộc đời trần thế của Người.

2. Mầu nhiệm này của Thiên Chúa được hoàn thành bởi “một Đấng Mê-si-a bị đóng đinh”. Điều đó hoàn toàn trái ngược với lý luận của loài người, gần như là nghịch lý. Thánh Phao-lô quả quyết : Đức Giê-su Na-da-rét chính là Đấng Mê-si-a, nhưng không như dân Ít-ra-en chờ đợi. Người ta không chờ đợi một người bị đóng đinh. Quan niệm của loài người cho rằng người bị đóng đinh không thể là Đấng Mê-si-a được. Tất cả mọi người Ít-ra-en lúc nào cũng có trong đầu họ câu sau đây của sách Đệ nhị luật : “Khi một người có tội đáng phải án chết đã bị xử tử, và anh em đã treo nó lên cây, thì xác nó không được để qua đêm trên cây, nhưng anh em phải chôn ngay hôm ấy, vì người bị treo đó là đồ bị Thiên Chúa nguyền rủa” (Đnl 21,22-23).

Tuy nhiên, ý định nhân hậu của Thiên Chúa “không gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô”, như thánh Phao-lô đã nói. Khi ngài làm chứng về niềm tin của mình, ngài không nói gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô : đối với thánh Phao-lô, Đức Giê-su Ki-tô đích thực là trung tâm của lịch sử nhân loại, trung tâm kế hoạch cứu độ, và là trung tâm đức tin của ngài. Ngài không muốn biết điều gì khác : “Tôi không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá.” Qua câu nói này, ta nhận ra những khó khăn đủ loại mà thánh Phao-lô phải đương đầu, từ những lời thoá mạ, kể cả những lần bị bách hại. Đấng Mê-si-a bị đóng đinh dạy ta hiểu rằng sự khôn ngoan đích thực, sự khôn ngoan của Thiên Chúa, là ân sủng và tha thứ, không chấp nhận bạo lực. Chúng ta đã nghe tất cả những điều đó trong bài Tin Mừng về “tám mối phúc thật” Chúa nhật tuần rồi.

Đối diện với sự khôn ngoan của Thiên Chúa, sự khôn ngoan của loài người là một sự khôn ngoan duy lý, đưa ra những lý lẽ để thuyết phục, dựa vào tài năng, uy quyền. Sự khôn ngoan này chúng ta không nghe trong sứ điệp của Tin Mừng, đàng khác, thánh Phao-lô đã gặp thất bại ở A-then, đỉnh cao của nền triết học ngày xưa.

3. Sự đối chọi thứ hai trong bản văn : ngôn ngữ hay lời rao giảng của thánh Phao-lô hay thuật hùng biện. Thánh nhân không hề nhắm đến vấn đề hùng biện, nhưng ngài đi xa hơn nữa. Đối với ngài, dùng hùng biện để thuyết phục người khác chỉ là một trở ngại vì hoàn toàn không phù hợp với sứ điệp Tin Mừng. Loan báo Tin Mừng không phải là khoe khoang sự hiểu biết hay đưa ra những lập luận. Đức tin, giống như tình yêu, không phải là việc thuyết phục. Bạn thử đi thuyết phục một người nào đó yêu bạn thử xem kết quả ra sao. Ta biết rằng trong tình yêu không có vấn đề lý luận, vì con tim có những lý lẽ riêng của nó. Đối với mầu nhiệm Thiên Chúa lại càng không hơn nữa. Người tín hữu chúng ta chỉ có thể bước vào mầu nhiệm tình yêu đó từ từ mà thôi.

Mầu nhiệm về một Đấng Mê-si-a tôi tớ, một Đấng Mê-si-a chịu đóng định không thể được loan báo bằng uy quyền, vì trái ngược với mầu nhiệm được loan báo ! Chính trong sự nghèo khó mà Tin Mừng được rao giảng. Đó là điều mang lại cho ta lòng can đảm ! Đấng Mê-si-a nghèo khó chỉ có thể được rao giảng bằng những phương tiện nghèo khó, Đấng Mê-si-a tôi tớ chỉ có thể được rao giảng bởi những người tôi tớ. Vì thế đừng quá lo lắng mình không phải là nhà hùng biện, vì sự nghèo khó trong lời diễn đạt của chúng ta rất phù hợp với sứ điệp của Tin Mừng, Thánh Phao-lô đi xa hơn nữa khi nói rằng đời sống nghèo khó của những người rao giảng là cần thiết cho việc rao giảng thành công, và phó thác mọi sự cho Chúa. Không phải thánh Phao-lô đã thuyết phục những người Cô-rin-tô, mà là Thánh Thần Chúa đã đem lại cho lời rao giảng của thánh Phao-lô sức mạnh của chân lý và giúp người Cô-rin-tô khám phá ra Đức Ki-tô.

4. Từ đó, ta có thể kết luận rằng không phải nhờ sức mạnh của lý luận mà thánh Phao-lô thuyết phục được những người đương thời với mình, mà là chính Thánh Thần của Thiên Chúa đã làm việc đó : “Khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy. Tôi nói, tôi giảng, mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa.”

4. Bài Tin Mừng : Mt 5,13-16

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su mời gọi tất cả chúng ta hãy giữ vững phẩm chất của người Ki-tô hữu, làm tròn vai trò chứng nhân cho Thiên Chúa là Tình Yêu. Nhân dịp này, tôi mời anh chị em cùng với tôi, chúng ta tìm hiểu xem muối còn có ý nghĩa gì khác nữa không ngoài việc giữ cho thực phẩm khỏi hư và làm cho thức ăn thêm ngon ?

Theo Kinh Thánh, muối có nhiều ý nghĩa : từ cái chết, hình phạt, sự khô cằn cho tới sự thanh tẩy, sự lâu bền. Trong Cựu Ước, muối liên hệ với các biến cố chết chóc và hoang tàn (St 19,26), kể lại việc Chúa hoả thiêu hai thành phố tội lỗi là Xơ-đôm và Gô-mô-ra, và việc bà Lót bị hoá thành tượng muối vì đã làm trái lệnh Chúa – cần nói rõ ý nghĩa sự kiện này ; việc ông A-vi-me-léc triệt hạ thành và tháp Si-khem và rắc muối lên thành. Hành động này nói lên muối làm cho đất ra hoang hoá, khô cằn, đất bị chúc dữ (Tl 9,45). Tuy nhiên, muối cũng là biểu tượng của sự thanh tẩy (2 V 2,19-22), kể lại việc ngôn sứ Ê-li-sa dùng muối để khử độc cho suối nước, khiến nước suối hoá lành để dân thành Giê-ri-khô có thể uống được mà không còn gây chết chóc và nạn vô sinh cho dân thành này nữa. Muối còn tượng trưng cho sự bền lâu và tốt lành của Giao ước (Ds 18,19) : “Tất cả các phần trích dâng trong các của lễ thánh mà con cái Ít-ra-en dâng Đức Chúa, Ta đều ban cho ngươi cũng như cho con trai con gái ngươi, chiếu theo một quy luật vĩnh viễn. Đó là giao ước muối muôn đời tồn tại trước nhan Đức Chúa, cho ngươi và dòng dõi ngươi.” Đây là lời Chúa phán với ông A-ha-ron. Như thế, muối được dùng trong bữa ăn hiệp thông, như để đóng ấn một Giao ước, ngụ ý cho Giao ước khỏi bị phá vỡ (Lv 2,13) : “Các ngươi phải bỏ muối vào mọi lễ phẩm các ngươi dâng tiến ; các ngươi không được để lễ phẩm các ngươi thiếu muối của Giao ước của Thiên Chúa các ngươi ; các ngươi phải dâng muối cùng với mọi lễ tiến của các ngươi.”

Còn trong Tân Ước, Chúa Giê-su đòi hỏi các môn đệ phải trở thành muối cho đời, nghĩa là trở nên yếu tố xúc tác, gây ảnh hưởng lan toả trên thế giới, cũng như có tác dụng gìn giữ và làm cho thế giới thêm mặn nồng trong Giao ước với Thiên Chúa.

Kết: Để có thể trở thành muối ướp mặn đời và ánh sáng cho trần gian, người Ki-tô hữu chúng ta cần sống trọn vẹn niềm tin đã lãnh nhận, một niềm tin sắt son, mà nói như thánh Phao-lô tông đồ trong thư gửi tín hữu Rô-ma, đức tin đòi buộc chúng ta sống đức ái, mà sống đức ái là chu toàn cả lề luật của Chúa. Nhờ sống đức ái mà chúng ta làm tròn vai trò chứng tá của Thiên Chúa tình yêu và là Cha giàu lòng thương xót. Một vài câu chuyện minh hoạ : Thánh Vinh-sơn Phao-lô, thánh nữ Tê-rê-xa Can-cút-ta, viên sĩ quan hiến binh Pháp, Arnaud Bertrame, các tu sĩ và linh mục tình nguyện dấn thân giúp đỡ những người bị nhiễm Covid trong các khu cấp cứu của các bệnh viện thu dung, trong đợt bùng phát đại dịch Covid lần thứ tư tại thành phố chúng ta cách đây mấy năm.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giê-su, Chúa dạy chúng con : “Anh em là muối ướp mặn đời, là ánh sáng cho trần gian, nghĩa là phải luôn giữ vững phẩm chất của người Ki-tô hữu.” Xin Chúa ban ơn trợ giúp để mỗi người chúng con có thể sống như Chúa đã dạy, nhờ thực hành lời Chúa trong đời sống đức tin thường ngày.

Tự vấn:

Chúng ta đã thật sự trở nên muối ướp mặn đời và ánh sáng cho trần gian qua chính đời sống của chúng ta chưa ?


C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Muối và ánh sáng

(Mgr. L. Daloz, trong “Nước Trời đến gần”, Desclée de Brouwer, 1994, trang 48-49).

Anh em là muối cho đời.” Để có ích, muối không được mất vị của nó : nó chỉ là gia vị ! Chính nó không phải là thức ăn, ít ra thường là như vậy : nó giúp cho thức ăn có hương vị. Trở nên nguồn hương vị thơm ngon, đó là nét độc đáo của chúng ta, những người theo Đức Ki-tô, trong thế giới chúng ta đang sống. Nét độc đáo này giúp chúng ta trở nên hữu ích cho đời nhờ sự khác biệt của nó. Chúng ta không được đánh mất sự khác biệt này : Nếu muối lạt đi thì lấy gì ướp nó cho mặn lại được ? Sự khác biệt của chúng ta không ở nơi bản chất riêng của mình hay nơi những tính tốt chúng ta có. Chúng ta không tự hào là những người tốt nhất hoặc muốn dạy người khác. Chúng ta cũng được nhào nặn bởi cùng một thứ bột như tất cả mọi người. Chúng ta cũng gặp những thuận lợi và những chướng ngại trong chúng ta và chung quanh chúng ta như mọi người. Nhưng chúng ta ra lạt khi không còn liên kết với Đức Ki-tô, khi không còn quy chiếu về Người, khi Người không còn là men cho đời sống chúng ta. Lúc đó cuộc sống chúng ta và thế giới chúng ta sống sẽ thiếu “hương vị” ; bởi vì sứ mạng của chúng ta là làm cho thế giới này biết “thưởng thức” Đức Ki-tô và Tin Mừng của Người !

Hình ảnh ánh sáng nối tiếp và làm rõ hình ảnh về muối : “Anh em là ánh sáng thế gian.” Ánh sáng là để nhìn, nhưng tự nó không đủ. Nó vô dụng nếu nó không soi cho cái gì hết. Đức Giê-su đặt các môn đệ của Người trong thế gian và quy chiếu với thế gian. Người không kêu gọi họ sống khép kín, tách rời người khác. Thánh Gio-an cũng nói như vậy nhưng diễn tả cách khác : “Con sai họ đến trong thế gian” (Ga 17,18). Chính vì vậy, các Ki-tô hữu sống trong thế gian và trong những hoàn cảnh như mọi người không những là điều bình thường mà còn cần thiết nữa … Họ không sống trong một thế giới khác ! Chúng ta phải thực hiện những công việc của ánh sáng, nghĩa là những hành vi tốt hay những việc làm tốt được ánh sáng Thiên Chúa soi chiếu để trở thành những việc làm của chính Thiên Chúa. Nói vậy không có nghĩa là Thiên Chúa mời gọi chúng ta tin rằng mình là người tốt hơn người khác hoặc tự mình, mình có thể hành động tốt hơn họ, bởi vì mọi công việc chúng ta làm đều quy về vinh quang Thiên Chúa là nguồn ánh sáng : “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời”. Nơi Đức Giê-su, ánh sáng đã toả chiếu trong thế gian. Chúng ta chỉ phản chiếu lại ánh sáng này. Đời sống, hành vi của chúng ta trở nên tấm gương phản chiếu vinh quang Thiên Chúa, trở nên nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người.

2. “Thấm nhập vào nơi thâm sâu của thế giới bằng sức mạnh linh hoạt của muối về sự chiếu toả của ánh sáng”

(J. Giullet, trong “Giê-su trong niềm tin của các môn đệ đầu tiên”, Desclée de Brouwer, 1995, tr. 110-111).

Thánh Mát-thêu đã xen kẽ hai đoạn ngắn với hình thức dụ ngôn về muối và ánh sáng vào giữa các Mối Phúc và những điều Đức Giê-su công bố về Luật (Do-thái). Cả hai đoạn này đều nhắm một nhóm riêng, phân biệt rõ ràng với những người đi theo nghe Người giảng, bởi vì nhóm này phải hành động theo lời Người dạy : “Anh em là muối cho đời … Anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,13.14). Trong bối cảnh Bài Giảng Trên Núi, rõ ràng Đức Giê-su nói với các môn đệ theo Người. Và nếu không loại bỏ đám đông náo nức theo Người, chúng ta có thể tin rằng sứ điệp của Đức Giê-su đã gây một tiếng vang nào đó trong đám đông và có thể một hạt nhân các môn đệ thành hình, gồm phụ nữ và đàn ông muốn theo Chúa. Tuy nhiên họ không làm thành một dân tộc mới, họ vẫn luôn thuộc về dân của ông Áp-ra-ham, của ông Mô-sê : họ là những người mang sứ điệp mới trong dân tộc họ. Điều này không có gì là lạ bởi vì người Ít-ra-en đã có thói quen nghe các ngôn sứ nói đến tương lai mà Thiên Chúa đang chuẩn bị, tương lai đó có lúc đen tối, có lúc lại rực rỡ. Tuy nhiên, tương lai Đức Giê-su phác hoạ hoàn toàn khác trước.

Ở đây, sự song hành với biến cố Xi-nai giúp làm sáng tỏ hơn. Một nhóm nhỏ những người dân dã tương ứng với dân chúng đông đảo tụ tập dưới chân núi của Thiên Chúa. Nhưng trong khi ơn gọi của dân Ít-ra-en là làm chứng cho Thiên Chúa và là dấu chỉ sự chúc phúc của Thiên Chúa ở giữa các dân tộc, thì sứ mạng của nhóm hạt nhân nhỏ này là thấm nhập vào nơi thâm sâu của thế giới bằng sức mạnh linh hoạt của muối và sự chiếu toả của ánh sáng. Ông Áp-ra-ham là người được Thiên Chúa chúc phúc và mọi dân tộc trên mặt đất đều được chúc phúc qua ông (St 12,1). Dân Ít-ra-en của ông Mô-sê phải trở nên một dân tộc lớn và mọi dân tộc khác đều thán phục cách ăn ở và tinh thần của họ : “Anh em phải giữ và đem ra thực hành, vì nhờ đó anh em sẽ được các dân coi là khôn ngoan và thông minh. Khi được nghe tất cả những thánh chỉ đó, họ sẽ nói : ‘Chỉ có dân tộc vĩ đại này mới là một dân khôn ngoan và thông minh !’” (Đnl 4,6). Theo Đức Giê-su chỉ có một số môn đệ. Tuy sống trong lòng một thế giới còn chưa biết đến mình, nhưng họ lại mang theo mình một sức mạnh khả dĩ biến đổi thế giới. Bởi vậy, sự toả chiếu của các mối phúc trở nên động lực cuộc sống.

3. “Xin hãy trao ban chính bạn làm muối ướp đời tôi”

(H. Denis, trong “100 từ để nói về niềm tin”, Desclée de Brouwer, 1993, tr. 95-96).

Muối ! Tại sao lại chọn vật nhỏ bé chẳng là chi hết này ngoài công dụng như một thứ gia vị ? Một số Ki-tô hữu không còn quen dùng nữa. Giáo Hội đôi khi còn nuối tiếc việc bỏ không dùng muối trong bí tích Thánh Tẩy. Mọi sự tiếc nuối vô ích khi mà nó không thúc đẩy người ta dấn thân.

Muối Tin Mừng còn quan trọng hơn một nghi lễ rất nhiều. Bạn hãy mường tượng–và chúng ta còn sửng sốt về điều này–muối là chính bạn, là chính tôi, là tất cả môn đệ Đức Giê-su. Môn đệ Đức Giê-su là–phải là–muối cho đời. Chỉ vậy thôi !

Một tham vọng ghê gớm, nếu chúng ta tự cho mình là những người tốt nhất, là gia vị duy nhất trong đám đông nhạt thếch, không có vị mặn. Nhưng đó sẽ là một trách nhiệm lớn lao nếu Đức Giê-su trao cho chúng ta một sứ mạng như vậy và cách thế để thực hiện nó.

Vâng, trước hết chúng ta có trách nhiệm của một loại giao ước giữa cái là muối và cái chưa phải là muối. Một thế giới không có muối thì chẳng có một chút hương vị nào, nhưng nếu ở ngoài thế giới này thì muối cũng vô dụng. Ki-tô hữu và thế gian là hai thành phần liên kết với nhau. Cả hai được tạo dựng để trộn lẫn với nhau. Hơn nữa, người trước tiên được lợi chính là người Ki-tô hữu, vì họ phải ướp mặn nơi họ tất cả những gì chưa là Ki-tô hữu.

Một trách nhiệm khác mà bạn biết rất rõ, đó là đừng ra nhạt. Bạn đừng nghĩ rằng để tránh điều này bạn phải trốn khỏi thế gian. Ắt hẳn sẽ có nguy cơ bị tan rã ở đó cách đơn thuần và dễ dàng. Nhưng muối mà chất đống và để nguyên một chỗ cũng có nguy cơ bị phân huỷ đi.

Vậy, bạn hãy nói cho tôi biết, nếu giữa người với người, giữa những Ki-tô hữu với nhau, chúng ta cố gắng duy trì vị, hương … cho thế giới của chúng ta thì phải làm thế nào ? Không thể chỉ cậy vào mình. Phải có thể nói : Xin đưa cho tôi chút muối !” Như là trong bữa ăn của đôi vợ chồng, của cha mẹ và con cái.

Vâng, nếu có bao giờ Tin Mừng nơi bạn nhạt nhẽo đi thì luôn có một người anh, một người chị để bạn hoàn toàn tin tưởng nói với họ : “Xin hãy trao ban chính bạn làm muối ướp đời tôi!”

Suy Niệm Suy Tư Cầu Nguyện Lời Chúa Hằng Ngày Gương Chứng Nhân #Chúa nhật 5 Thường niên năm A #Lời Chúa Hằng Ngày #Man-na cho người lữ hành

Bài viết liên quan